Sự an ủi của triết học: Hãy đọc khi thấy cuộc đời chơi vơi
Lịch sử đã có rất nhiều vị triết gia vĩ đại. Tuy họ có những tư tưởng khác nhau nhưng đều có một đặc điểm chung, đó là tận tâm với triết học. Mà triết học vốn có nghĩa gốc trong tiếng Hy Lạp đó là "Yêu và Trí huệ". Cuốn sách này đáp ứng nhu cầu tìm kiếm trí huệ thông qua triết học đối với một người bình thường. Bởi nếu không có nền tảng về triết học mà phải đọc những cuốn sách chuyên ngành dày cộm, bạn sẽ thấy vô cùng khó khăn.
Tác giả Alain de Botton, nhà văn tài năng người Anh sinh năm 1969, tốt nghiệp Đại học Cambridge và hiện đang sống ở London, đã chọn ra sáu vị triết gia vĩ đại trong lịch sử và viết nên cuốn sách này để sáu người họ mang lại sự chữa lành cho các khía cạnh trong cuộc sống của chúng ta. Bởi vậy nó mới có tiêu đề là "Sự an ủi của triết học".
Hôm nay Reading To Heal sẽ chắt lọc phần cốt lõi nhất và bổ sung những chi tiết mang tính cá nhân cùng những ý nghĩa thực tiễn từ cuốn sách này để giúp bạn tìm hiểu những tư tưởng, kinh nghiệm qua sáu nhà triết học nổi tiếng: Socrates, Epicurus, Seneca, Montaigne, Schopenhauer và Nietzsche. Mong rằng khi trong lòng bạn còn đầy những nỗi khổ, căng thẳng, lo âu mà không biết phải làm sao, họ sẽ giúp bạn giảm bớt đau thương, bình tĩnh đối mặt và chấp nhận những sắp đặt khác nhau của cuộc sống qua những góc nhìn khác nhau, thậm chí là giúp bạn chữa lành, vượt qua được những vấn đề đó.
Hoặc bạn có thể tìm đọc thêm để biết tìm thấy hạnh phúc trong bóng tối qua sách Trí tuệ nhân sinh của triết gia Arthur Schopenhauer nhé!
Sống thế nào khi thiếu tiền, khi đời trắc trở
Sống giữa đời, chúng ta có quá nhiều thứ “phải buồn”: Từ những bất như ý trong tài chính, đến chuyện buồn gia đình, trong các mối quan hệ rồi công việc… Vậy phải làm thế nào đây? Chúng ta sẽ có câu trả lời trong sách Sự an ủi của triết học.
Niềm an ủi cho những ai lạc lõng giữa đời (Socrates)
Vị triết gia đầu tiên đó là Socrates. Vào mùa xuân năm 399 trước Công Nguyên, ba người Athens đó là nhà thơ Meletus, chính khách Anytus và nhà hùng biện Lycon đã đệ đơn kiện Socrates, cáo buộc ông không tôn trọng các vị thần của thành bang, truyền bá dị giáo và làm hư hỏng giới trẻ. Họ tin rằng Socrates nên phải im lặng mãi mãi bằng cách uống thuốc độc. Tại sao Socrates lại bị kết tội chết? Đó là vì ông đã đi ngược lại với số đông.
Xã hội nào cũng có "lẽ thường" bất di bất dịch. Lẽ thường được hiểu ở đây đó là một khuôn khổ nhận thức mạnh mẽ, vững chắc, được nhiều người tuân theo như một bản năng và biến chúng thành tiêu chuẩn của xã hội. Ví dụ: nên mặc quần áo gì, như nào mới là giàu, người nào phải tôn trọng, việc gì cần phải làm theo.... Nhưng nếu ai đó đi ngược lại với lẽ thường này, nếu ai đó nói rằng những gì bạn nhận thức bấy lâu nay là sai, phản ứng đầu tiên của hầu hết mọi người không phải là tò mò vì sao tôi sai, mà chắc chắn họ sẽ tức giận.
Socrates ở Athens lúc bấy giờ cũng như vậy. Nhiều người đã tức giận vì ông đã đi ngược lại với quan điểm của họ. Người đàn ông sinh vào năm 469 trước Công Nguyên này cả đời đi chân trần giản dị, chỉ mặc một chiếc áo choàng quanh năm và có một người vợ hung dữ. Hàng ngày ông đi bộ trên đường, hễ gặp ai đều sẽ hỏi cho bằng được ý nghĩa cuộc đời của người đó là gì. Đây là cách ông thực hiện triết học và giúp mọi người hiểu rõ chân lý cuộc đời. Thế nhưng những điều này đã đi ngược lại với rất nhiều người thời điểm đó.
Vào ngày xét xử Socrates, bồi thẩm đoàn có 500 người. Công tố viên dùng những lời lẽ hoa mỹ, chớp nhoáng để khiến lý lẽ yếu đuối có thể chiến thắng và buộc tội Socrates. Tuy nhiên, ông bình tĩnh đến lạ thường. Tòa án cho ông cơ hội từ bỏ chân lý của mình trước công chúng nhưng ông vẫn chọn sự thật mà mình tin tưởng chứ không chạy theo đám đông.
Ông mạnh mẽ nói trước tòa:
"Chừng nào tôi còn thở, khả năng nguyên vẹn, tôi sẽ không bao giờ ngừng thực hành triết học. Tôi cũng không bao giờ ngừng khuyên các ông, sẽ không dừng việc giải thích rõ về chân lý cho từng người mà tôi gặp. Vì thế, kính thưa các vị, bất luận là các vị thả tôi hay không thì cũng không thay đổi được hành vi của tôi. Có chết tôi cũng không hối hận. Tôi muốn khuyên mỗi người trong các bạn hãy bớt nghĩ đến những lợi ích thực tế mà ngẫm nhiều hơn đến hạnh phúc từ tinh thần và đạo đức. Tôi sẽ tiếp tục nói như thường lệ. Các bạn tốt của tôi, các bạn là người Athens, một trong những thành phố vĩ đại nhất thế giới, nổi tiếng về trí tuệ và sức mạnh, nhưng các bạn lại bị ám ảnh bởi danh tiếng và tiền bạc mà không suy nghĩ đến những chân lý để làm sao cải thiện tâm hồn mình. Các bạn không cảm thấy xấu hổ sao?"
Cuối cùng thì 220 người trong bồi thẩm đoàn cho rằng Socrates vô tội, nhưng 280 người bỏ phiếu ông có tội. Socrates đã bình tĩnh, mặt không đổi sắc, tay vững vàng đón lấy cốc nước độc và uống cạn nó. Socrates đương nhiên là thừa nhận rằng chúng ta có thể sai và ý kiến của bạn có thể bị nghi ngờ, nhưng cái quan trọng là ông chỉ cho bạn một quan điểm triết học để có thể sống là chính mình khi bị phủ nhận, bác bỏ và không nhận được sự tin tưởng. Đó là: Đừng bao giờ lấy sự phản đối của người khác để làm thước đo cho suy nghĩ và lối sống của bạn.
Điều chúng ta nên quan tâm không phải là số người phản đối chúng ta, mà là sự phản đối của họ có căn cứ như thế nào. Như tác giả nói: "Phẩm giá đích thực không bao giờ đến từ số đông mà đến từ một lý lẽ chính đáng".
Suy nghĩ của bạn có chính đáng và hợp logic hay không mới là điều chứng tỏ phẩm giá con người bạn, chứ không phụ thuộc vào việc bạn được bao nhiêu người ủng hộ, tán dương, và cũng không phụ thuộc vào việc người quan trọng có vị thế nào đó tin tưởng bạn trong bao lâu. Chỉ những khẳng định không thể bác bỏ mới đúng, đó là sự thật. Bạn nên kiên định.
Bạn sẽ thấy triết lý này có thể ứng dụng khi đi làm và tiếp xúc với xã hội. Nếu bạn nghe một lời chỉ trích gay gắt về hiệu suất làm việc của mình mà rơi nước mắt, hay nghe thấy lời chê trách tính cách bề ngoài của bạn mà tức giận, thì đó có thể là bạn vẫn đang tin rằng khả năng của mình phần lớn dựa trên sự công nhận của người khác.
Bạn vẫn quan tâm đến việc có được mọi người ưa thích hay không, làm thế nào để được thăng tiến, để được người khác ngưỡng mộ. Bạn vẫn còn đang giữ lấy những lời nói đàm tiếu, chế giễu hay phê bình của người khác làm định hướng cho chính mình. Nếu vẫn còn đang đau khổ và bối rối như vậy thì câu chuyện của Socrates có thể là một nguồn cảm hứng cho sự bắt đầu để chữa lành, giúp chính bạn đi đúng hướng.
Hãy bắt đầu bằng việc không ngừng củng cố bản thân, mở rộng lĩnh vực nhận thức, nhìn mọi việc từ một chiều hướng cao hơn, bạn mới có thể kiên định trong nội tâm và không đánh mất sự thật trong lòng.
Niềm an ủi cho những ai thiếu tiền (Epicurus)
Sau đó, thời gian trôi đến năm 341 trước Công Nguyên, trên đảo Samos ở Hy Lạp có một đứa trẻ được sinh ra, đó chính là Epicurus. Ông là một triết gia của chủ nghĩa khoái lạc. Trường phái này nhấn mạnh điểm xuất phát và mục tiêu cuối cùng của cuộc đời là niềm vui. Con người sống vì niềm vui.
Nhưng khi nghe đến chữ "khoái lạc", nhiều người luôn cho phép trí liên tưởng bay cao. Người ta nói ông là kẻ tham ăn, ăn chơi trác táng, sống trong môi trường thác loạn rất ghê tởm. Mỗi ngày ăn rất nhiều, ăn no quá thì có thể nôn ra để tiếp tục ăn. Những điều này đều là tin đồn. Như bạn biết đấy, tin đồn đều có cánh và chúng lan truyền cực kỳ mạnh mẽ. Đến nỗi khi tra từ điển tiếng Anh Oxford, bạn sẽ thấy có từ "Epicurean". Ví dụ nói: "Bữa cơm này rất Epicurean", có nghĩa là bữa cơm đó rất ngon, rất sang. Từ Epicurean tượng trưng cho sự hưởng thụ và xa xỉ.
Nhưng kỳ thực Epicurus sống rất đơn giản. Ông chỉ uống nước và không uống rượu. Mỗi bữa ăn có bánh mì, rau và một nắm ô liu là đủ. Danh sách nhu cầu niềm vui của ông cũng hết sức tối giản mà lại có thể mang đến cho bản thân niềm vui sâu sắc, bao gồm ba điều:
-
Tình bạn: Đối với Epicurus, để có được hạnh phúc, con người phải có tình bạn. Ông nói: "Trong tất cả điều mà trí tuệ có thể mang lại để giúp cho con người sống hạnh phúc, tình bạn vượt xa mọi thứ". Trước khi ăn uống, hãy nghĩ kỹ xem bạn muốn ăn cùng ai chứ không phải bạn ăn gì, uống gì. Bởi vì khi ăn mà không có bạn bè thì cũng không khác gì con sói hay sư tử. Việc ông thành lập một trường học triết học cũng là để có thể ở bên những người bạn có cùng giá trị và theo đuổi hạnh phúc đơn giản giống như ông.
-
Tự do: Sự tự do mà Epicurus đề ra giống như sự tự do mà mình đã từng chia sẻ trong video cuốn sách "Walden" - sống một mình trong rừng. Tác giả Thoreau chỉ làm việc sáu tuần và kiếm đủ cho một năm sinh hoạt là sẽ nghỉ. Thời gian còn lại của ông không ai có thể lấy đi. Ông chỉ ngồi bên hồ đọc sách, đi dạo chơi đùa, nghe tiếng chim hót và quan sát thiên nhiên. Đối với ông đây mới là tự do thực sự. Nhìn lại chúng ta ngày nay đã dành quá nhiều thời gian để cố gắng kiếm nhiều tiền hơn nhưng cũng vì thế mà đã đánh mất rất nhiều tự do.
-
Tư tưởng: Nghĩa là nếu chỉ có những suy nghĩ đơn giản và không theo đuổi những mục tiêu sâu sắc, nếu không đọc nhiều sách, không hiểu rõ về tự nhiên, bản thân và cuộc đời, thì sự tự do hay tình bạn của bạn sẽ hời hợt. Vì vậy bạn cũng không thể nào cảm nhận được thế nào là niềm vui và hạnh phúc thực sự. Cho nên một điều quan trọng nhất đó là phải rèn luyện khả năng suy ngẫm sâu sắc.
-
Thứ nhất đó là ham muốn tự nhiên và cần thiết. Đây là những nhu cầu cơ bản nhất trong cuộc sống mà tất cả chúng ta đều phải có. Ví dụ như cần phải có thức ăn, nơi trú ngụ, quần áo, sự tự do, bạn bè, ý tưởng…
-
Thứ hai đó là ham muốn tự nhiên nhưng không cần thiết. Ví dụ: đã có nhà nhưng nhà phải xây lớn hơn, đã có xe đi lại nhưng phải thật xịn hơn, đã có cái ăn nhưng phải là sơn hào hải vị. Những thứ này thực sự không cần thiết.
-
Còn cuối cùng đó là ham muốn không tự nhiên và cũng không cần thiết. Cụ thể đó là sự theo đuổi địa vị và có danh tiếng. Như là việc ý định ban đầu của bạn muốn chia sẻ điều gì đó trên mạng xã hội nhưng càng làm thì bạn lại càng bị ám ảnh bởi mục đích phải thật nổi tiếng, phải có thật nhiều người biết đến mình. Những thứ như thế này đều là ảo tưởng, bởi vì điều đó không mang lại cho bạn hạnh phúc mà chỉ tạo thêm gánh nặng.
Vì vậy bạn sẽ thấy việc định hình lại ham muốn trong bạn sẽ giúp bản thân chữa lành cho chính cuộc sống của mình.
Epicurus giúp bạn nhận thấy rằng chúng ta hoàn toàn có thể gác bỏ mọi nỗi buồn khổ, bực dọc từ việc cảm thấy mình không có đủ tiền bằng cách nhìn thấu một câu hỏi:
Tại sao con người trong xã hội ngày nay vẫn luôn phải tìm mọi cách để theo đuổi nhiều thứ hơn mà cuối cùng đau khổ vì không đạt được?".
Đó là vì chúng ta chưa thực sự hiểu rõ nhu cầu của bản thân. Thực chất điều bạn cần không quá phức tạp, nó chỉ bao gồm tự do, kết nối nhu cầu cơ bản của cuộc sống, vậy thôi là đủ. Đơn giản hóa mọi thứ sẽ giúp bạn có thể hạnh phúc.
Nhưng bởi vì bạn không hiểu được mình thực sự cần gì, một nội tâm hời hợt, một trí huệ thiếu đi sự sâu sắc sẽ khiến bạn không thể hiểu được thế nào là tự do, tình bạn, tình yêu thực sự. Vậy nên khi không có đáp án mà ta cứ lao về phía trước, con người sẽ tin rằng những thứ đắt đỏ sẽ giúp chúng ta đạt đến những điều tôi mong muốn.
Nghĩ rằng khi nào đạt được sự tự do tài chính thì sẽ thực sự có được tự do. Nghĩ rằng một bình rượu vang xịn sẽ giúp ta kết giao được bạn bè. Nghĩ rằng có nhà lớn, xe riêng sẽ giúp ta lấy được người bạn đời lý tưởng.... Thế nhưng những thứ đó không phải là nhu cầu thực sự của bạn mà chỉ là những ham muốn dư thừa. Vậy thì sau khi nghe câu chuyện của Epicurus, bạn có thấy mình bình tâm hơn một chút không? Chỉ với một ít bánh mì và vài quả ô liu, bạn thực sự có thể sống một cuộc đời tốt đẹp.
Niềm an ủi cho những ai đang gặp trắc trở (Seneca)
Tiếp theo trong sách Sự an ủi của triết học, tác giả sẽ đưa chúng ta bước từ thời Hy Lạp đến thời La Mã để gặp triết gia Seneca.
Bạn có biết bạo chúa Nero khét tiếng tàn độc ở La Mã cổ đại hay không? Seneca lại chính là thầy của Nero trong 5 năm và phụ tá cho vị bạo chúa này trong 15 năm. Có lẽ hai người họ có nền tảng tình cảm khá tốt, thế nhưng Nero đã cử một nhóm binh đến nhà Seneca và ban cho ông ấy cái chết bằng cách tự sát. Lúc này, vợ và những người quanh Seneca đã bật khóc bởi vì họ thương tiếc rằng ông là một triết gia tài giỏi và là người có phẩm cách rất tốt. Tuy nhiên, Seneca lại bình tĩnh vô cùng và nói một câu nổi tiếng như thế này:
"Triết học của mọi người đã đi đâu rồi?".
Chính từ thời Seneca, hai chữ "triết học" mới xuất hiện trong hệ thống diễn ngôn phương Tây. Triết học ngay từ đầu có nghĩa là bình thản và điềm tĩnh. Seneca chính là tấm gương mẫu mực của sự điềm tĩnh. Ông là một trong những người đại diện quan trọng nhất của Chủ nghĩa Khắc kỷ – một trong bốn trường phái triết học lớn ở Hy Lạp cổ đại. Chủ trương của chủ nghĩa khắc kỷ đó là duy trì nội tâm bình yên khi đối mặt với một thế giới hỗn loạn, khó lường và khắc nghiệt.
Seneca đã từng phải trải qua sự lụi tàn của thành phố Pompeii phong túng sa đọa, từng sống ở thời trị vì của Caligula – vị hoàng đế điên loạn, tàn bạo, trụy lạc nhất thế giới, và rồi phải đối mặt với bạo chúa Nero. Khi 20 tuổi, Seneca đã mắc bệnh lao. Bằng nỗ lực làm việc chăm chỉ thì cuối cùng ông mới có thể sống sót sau 6 năm chống chọi với bệnh tật. Nhưng kết quả là sau khi Caligula bị ám sát, ông lại bị vướng vào cuộc đảo chính nội cung và bị đi đày 8 năm nữa.
Làm thế nào để Seneca có thể đối mặt với một cuộc sống vô cùng trắc trở không tưởng như vậy? Ông nói: "Chính triết học đã mang lại cho tôi cuộc sống và bình tĩnh bằng phương pháp triết học là sự báo đáp tối thiểu của tôi dành cho triết học". Điều cốt lõi trong triết học của Seneca đó là cuộc sống không thể nào tránh khỏi những trắc trở. Vì vậy, mọi người đều phải chuẩn bị sẵn sàng để đón nhận.
Nhưng chúng ta hãy nhìn lại thử xem, khi gặp trắc trở, hầu hết mọi người thường chỉ tức giận. Chỉ cần, ai đó nói lớn tiếng gây ồn khi ta đang học, đi trên đường xe đằng sau bấm còi inh ỏi… bạn cũng sẽ có cảm giác tức giận như muốn nổi điên lên.
Seneca là thầy của một hoàng đế, sống trong tầng lớp quý tộc quyền lực, thế nhưng ông ấy tin rằng cuộc sống không thể hoàn hảo. Con cái không nghe lời, bạn bè quay lưng với bạn, kẻ thù chơi xấu ném đá giấu tay, người yêu phản bội mình, sự nghiệp sụp đổ...
Hay ngay cả những cú sốc lớn như là không may gặp tai nạn, mắc bệnh nặng khó chữa, thì đối với chủ nghĩa khắc kỷ, bạn vẫn có thể bình tĩnh và cảm thấy không hề hấn gì ngay cả khi những thứ này diễn ra bất cứ lúc nào. Những điều vô thường xảy ra hàng ngày, lo âu chỉ đến từ việc ta chống cự lại vô thường.
Seneca cho rằng người khôn ngoan không có gì để mất cả, vì họ đều có thể có cho mình cảm giác hài lòng. Và ông nói:
"Tôi chưa bao giờ tin vào nữ thần vận mệnh ngay cả khi bà ấy có vẻ sẵn sàng cho tôi cuộc sống bình yên. Tôi gác tất cả tiền bạc, chức vụ và quyền lực mà bà ấy trao cho tôi sang một bên. Và nữ thần có thể lấy đi bất cứ lúc nào mà không thể làm phiền được tôi. tôi giữ khoảng cách xa với những thứ vật chất đó để bà ấy có thể lấy chúng đi thay vì tôi cảm thấy bị tước đoạt".
Sở dĩ mọi người suy sụp vì những trắc trở và thất bại trong đời là vì chúng ta chưa thực sự giữ khoảng cách giữa bản thân với những gì mình đang có. Khoảng cách này là một nơi để bạn có thể bình tĩnh ngay cả khi những thứ đó mất đi, và nó là giới hạn để bạn không bị trộn lẫn và đồng hóa với mọi vật chất. Mất nhà, mất việc, mất người yêu, rơi mất chiếc nhẫn vàng hay chiếc điện thoại không may rơi vỡ màn hình, nếu như bạn vẫn còn đau khổ có nghĩa là bạn đã bị vật chất đồng hóa.
Vì vậy, ở phần này bạn sẽ nhận được sự chữa lành những nỗi đau qua phương pháp triết học của chủ nghĩa khắc kỷ đó là: Hãy luôn giữ khoảng cách với tất cả vật chất, chức vụ, danh tiếng và mối quan hệ mình có; bình thản điềm tĩnh trước tất cả thay đổi của vô thường.
Sự an ủi của triết học khi đời không như ý
Chúng ta không ai hoàn hảo nhưng khổ đau vì đi tìm sự hoàn hảo, chúng ta biết rằng buồn vui là lẽ thường nhưng vẫn trốn buồn tìm vui và rồi đau khổ. Làm sao để có thể sống an vui hơn, hãy lắng nghe Alain De Botton chia sẻ tiếp trong cuốn sách này.
Niềm an ủi cho những ai cảm thấy bản thân không hoàn hảo (Montaigne)
Vị triết gia Montaigne sinh ra ở phía tây nam nước Pháp vào năm 1533. Ông sống trong một lâu đài lộng lẫy. Năm 30 tuổi đã kế thừa sự nghiệp cai quản trang trại của gia tộc, thế nhưng ông chẳng mấy hứng thú với việc này mà chỉ thích một mình đọc sách trên lầu.
Ông có một quan điểm triết học nổi tiếng như thế này:
"Biết rằng bản thân đã nói hoặc làm điều gì đó ngu ngốc thì cũng chẳng sao cả, bởi vì bài học quan trọng hơn hết mà chúng ta cần phải học đó là tất cả chúng ta đều là những kẻ ngốc".
Montaigne tin rằng con người có lý trí và cho mình là thông minh, nhưng đôi khi chúng ta không hạnh phúc bằng loài vật. Động vật biết cách tự chăm sóc bản thân tốt hơn con người. Ví dụ như nếu một con cừu bị thương, nó sẽ tìm một loại cỏ tương ứng để nhai và đắp vào vết thương. Nếu một con rắn bị thương thì nó cũng sẽ tự biết cách cứu mình. Nhưng nếu một người bị thương thì họ không thể làm vậy.
Có một câu chuyện rằng, nhà triết học Pyrrhon gặp một cơn bão lớn khi đi du ngoạn bằng tàu. Tất cả các hành khách đều hoảng sợ, lo lắng rằng con tàu mỏng manh sẽ bị vỡ trước cơn thủy triều dữ dội. Duy chỉ có một hành khách không hề mất bình tĩnh và ngồi lặng lẽ trong một góc với vẻ mặt vô cùng bình thản, đó là một con lợn. Chúng ta có dám nói rằng lợi ích của việc có lý trí sẽ giúp con người giảm bớt đau khổ trong cuộc sống không?
Chúng ta đề cao lý trí đến mức tưởng mình có thể thống trị vạn vật, nhưng khi có kiến thức và lý trí tại sao chúng ta vẫn không thể có được bình yên thực sự?
Lý trí đem cho con người khả năng phán đoán và nhận thức, nhưng cái giá phải trả cho nó cũng rất cao, đó là sinh ra mâu thuẫn, nghi ngờ, lo lắng, tham vọng, đố kỵ, sự dối trá, không trung thủy, chiến tranh.... Chúng ta cần sống có lý trí, nhưng nếu quá đề cao lý trí, có nghĩa là cho rằng điều mình nghĩ là hoàn toàn đúng, nó sẽ là nguyên nhân gián tiếp dẫn đến những nỗi đau khổ về khiếm khuyết và sự không hoàn hảo của cuộc sống. Ví dụ: ám ảnh vì thân thể không được đẹp, ám ảnh vì kém thông minh, thi cử điểm thấp, học vấn không cao, nghề nghiệp không nở mày nở mặt.
Triết gia Montaigne nói rằng kẻ ngu ngốc nhất là người không thể chấp nhận được rằng mình có thể là một kẻ ngốc. Là một người không hoàn hảo thì có sao, bởi vì rốt cuộc chúng ta đều là những kẻ ngốc. Chúng ta ngốc bởi vì cơ thể vật chất luôn có những hạn chế và ảnh hưởng rất lớn đến con người và không ai có thể thoát khỏi thân xác nặng nề này. Dù có vẻ quý phái đến đâu thì bạn vẫn phải ngồi bằng mông – đó là câu nói dí dỏm của vị triết gia này.
Vì vậy, giữa con người với nhau không có quá nhiều sự khác biệt, người có khuyết điểm cũng không cần phải cảm thấy bản thân thấp kém. Tất cả các cơ quan trên cơ thể từ đầu đến chân đều bình đẳng như nhau. Chúng ta không cần phải cố gắng che đậy đi bộ phận nào đó mà mình không như ý, cũng không cần phải phiền lòng vì nó. Cho cùng mọi thứ cũng chỉ là cơ quan của cơ thể con người.
Bên cạnh đó chúng ta cũng ngốc bởi vì bộ não này quá đề cao lý trí và bản thân. Bởi vậy ta đã quá quan trọng hóa vấn đề khi thấy bản thân yếu kém hơn người khác.
Ví dụ: nhiều bậc cha mẹ rất coi trọng thành tích của con cái. Montaigne cho rằng điểm số ở trường không đại diện cho trí thông minh. Trí thông minh của một người là thể hiện ở những bài học cuộc đời, trong những bài kiểm tra từ chính những vấn đề ở cuộc sống hàng ngày chứ không phải là trên sách vở. Cuộc sống của con người vốn là một phần điên rồ, một phần khôn ngoan. Vì thế nếu chúng ta thừa nhận điểm yếu của mình, ngừng tự ti về những gì không như ý và ngừng khoe khoang những gì khiến bản thân tự đắc, thì bằng cách sống "nửa khôn nửa ngu" độc đáo của riêng mình, chúng ta cũng sẽ có một cuộc đời mãn nguyện.
Niềm an ủi cho những ai đang buồn (Schopenhauer)
Nói đến nỗi buồn, chúng ta không thể không nhắc tới Schopenhauer. Ông là một vị triết gia suốt đời buồn khổ, cô đơn và chỉ nhận được vô số lời ca tụng sau khi đã khuất. Những người nổi tiếng chịu ảnh hưởng sâu sắc từ ông bao gồm Nietzsche, Freud, Tolstoy, Einstein, Wagner.
Schopenhauer sinh năm 1788 ở một thành phố của Đức nay là một phần của Ba Lan. Tuổi thơ của ông vừa may mắn cũng vừa bất hạnh. Cha ông là một doanh nhân giàu có và sống thu mình, còn mẹ ông là một người nhiệt tình vui vẻ. Hai tính cách khác nhau và thường xuyên cãi vã. Lớn lên trong bầu không khí gia đình như vậy, Schopenhauer ngay từ nhỏ đã nhạy cảm và u sầu.
Khi Schopenhauer 17 tuổi, cha ông đã tự sát và để lại cho ông một khối tài sản thừa kế lớn, đảm bảo rằng ông có thể cả đời không cần làm việc. Sau đó ông được đưa đi du học ở Anh và Pháp. Thế nhưng trong quá trình này ông có triệu chứng bị trầm cảm và hàng ngày suy nghĩ đến những điều đau khổ trên thế giới. Việc người cha tự sát đã mang lại cái bóng tâm lý rất lớn cho ông.
Schopenhauer có một tài năng triết học đáng kinh ngạc. Khi mới 30 tuổi ông đã xuất bản tác phẩm đầu tay "Thế giới như là ý chí và ý niệm". Cuốn sách này ngày nay rất nổi tiếng, ai thích tìm hiểu về triết học thì đều nên đọc nó. Tuy nhiên, năm đó cuốn sách mà ông đặt hết tâm huyết và kỳ vọng chỉ bán được vỏn vẹn 230 bản bởi hầu hết không ai có thể hiểu được. Thật vậy, những người đi đầu trong suy nghĩ luôn cô đơn. Tác phẩm ông viết với bao công sức cuối cùng lại bị chất đống ở nhà kho, điều này khiến ông suy sụp.
Tuy nhiên ông vẫn tiếp tục viết. Hai năm sau ông đi dạy triết tại một trường đại học ở Berlin, nhưng lớp học của ông chỉ có năm sinh viên, trong khi lớp kế bên của Hegel có tới 300 sinh viên. Có lẽ bởi vì ông ấy không giỏi ăn nói và tính cách tương đối nội tâm. Ông có một mối tình không trọn vẹn cứ hợp tan với một cô gái suốt 10 năm. Phải mãi cho đến năm 63 tuổi, với tác phẩm cuối cùng của mình "Tiểu luận và Ghi chú", ông mới được mọi người biết đến. Hai năm sau đó ông nổi tiếng khắp châu Âu và các cuốn sách trước đấy cũng trở nên nổi tiếng không ngờ. Rằng cuốn sách ông vốn không hề kỳ vọng lại có thể gây chấn động mạnh.
Schopenhauer cuối cùng đã đạt được vinh quang mà lẽ ra ông phải có từ sớm. Nhưng lúc này ông bấy lâu đã coi thường danh lợi, ngay cả danh hiệu Viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học Hoàng gia Berlin ông cũng lịch sự từ chối.
Schopenhauer dành phần đời còn lại sống ẩn dật ở Frankfurt với người bạn đồng hành đó là chú chó xù. Ông hưởng thọ 72 tuổi và cả đời chưa từng kết hôn. Thái độ của ông đối với tình yêu là: tình yêu có thể làm gián đoạn công việc nghiêm túc bất cứ lúc nào, và đôi khi những bộ óc vĩ đại nhất có thể tạm thời bối rối vì nó. Nó đôi khi đòi hỏi con người phải hy sinh sức khỏe, đôi khi phải hy sinh của cải, địa vị và hạnh phúc. Ông nói yêu nhau chẳng mấy khi được tốt đẹp, nhưng tại sao người ta vẫn muốn yêu? Đó là bởi vì con người có một ý chí sống mạnh mẽ. Ý chí đó xuất phát từ một thế lực nào đó yêu cầu con người phải sinh sản, duy trì sự sống còn của loài người trong tương lai.
Có thể thấy Schopenhauer nói về tình yêu một cách rất buồn tẻ, nhưng suy nghĩ của ông thì lại vô cùng sâu sắc. Ông nhận thấy quá trình mà hầu hết mọi người yêu nhau thực sự vô nghĩa. Bạn nói dối, tôi nói dối bạn, bạn chỉ vì bạn, tôi chỉ vì tôi. Chính ý chí sống mạnh mẽ đã khiến mỗi người làm việc như vậy lặp đi lặp lại từ thế hệ này sang thế hệ khác. Schopenhauer là người tiên phong đầu tiên trong chủ nghĩa duy ý chí. Ông tin rằng ý chí cao hơn lý trí. Cuộc sống là một bi kịch và ham muốn là nguồn gốc của mọi nỗi đau.
Những tư tưởng triết học của ông có vẻ bi quan nhưng lại có thể khiến con người trở nên cực kỳ mạnh mẽ trong nỗi cô đơn. Quan điểm cốt lõi về cuộc sống của Schopenhauer về cơ bản là không có bất kỳ giá trị nào. Con người chỉ dựa vào nhu cầu và ảo tưởng để có thể tiếp tục vận động. Thực chất con người đang cống hiến cuộc đời của mình cho một sự tồn tại vô nghĩa. Ông nói cuộc sống giống như một con lắc dao động giữa đau đớn và buồn chán. Ham muốn không được thỏa mãn thì sẽ đau đớn, khi ham muốn được thỏa mãn thì sinh ra buồn chán.
Vậy đứng trước một cuộc đời bi thảm, đầy đau khổ và vô nghĩa như vậy, con người chúng ta phải làm sao?
Schopenhauer tin rằng một người thông thái thực sự nên cần làm điều này:
"Khi đào hồ trong bóng đêm, chúng ta phải cố gắng biến nước mắt thành kiến thức".
Nghĩa là nhận rõ sự vô nghĩa của đời người. Chúng ta cần phải sinh tồn và học cách làm một việc đó là biến nỗi đau thành kiến thức. Đây là cách duy nhất khiến bạn sống một cuộc đời khác biệt và cũng là cách Schopenhauer chữa lành chính những nỗi đau khổ của cuộc đời mình. Bạn sẽ thấy suy cho cùng suy nghĩ là cội nguồn của hạnh phúc. Thế giới tinh thần bên trong càng phong phú thì bạn sẽ càng hạnh phúc.
Niềm an ủi cho những ai đang sống không như ý muốn (Nietzsche)
Nhà triết học cuối cùng trong sách Sự an ủi của triết học đó là Nietzsche. Những gì vị triết gia này mang lại cho chúng ta đó là sự chữa lành trong chính những khó khăn.
Nietzsche nói rằng:
"Đối với những người mà tôi quan tâm, tôi cầu chúc cho họ đau khổ, cô đơn, bệnh tật, bị ngược đãi và bị sỉ nhục. Tôi cầu mong họ không phải chịu những trải nghiệm sau: tự hạ thấp, coi thường bản thân, bị giày vò từ việc thiếu tự tin và rơi vào trạng thái bi thảm sau thất bại".
Quan điểm này của Nietzsche giống như một bản nâng cấp của Mạnh Tử. Mạnh Tử cũng đã từng nói: "Ông trời giao trọng trách cho một người, trước tiên là thử thách ý chí anh ta, rèn luyện xương cốt, bắt phải chịu đói chịu nghèo và làm việc gì cũng không được theo ý muốn. Những việc này chỉ để tôi luyện lòng kiên trì và nâng cao tài năng của người đó".
Nỗi đau đối với Nietzsche mà nói đó là chất liệu không thể thiếu để xây dựng nên nhân loại rực rỡ. Vì vậy hãy nhìn vào câu nói nổi tiếng nhất của Nietzsche đó là: "Cái gì không giết được bạn sẽ khiến bạn mạnh mẽ hơn". Đây là sự thật và là lập luận cốt lõi của ông.
Năm 21 tuổi, Nietzsche đến một hiệu sách và bằng một sức mạnh thôi thúc nào đó đã khiến cho ông đọc cuốn "Thế giới như là ý chí và ý niệm" của Schopenhauer.
Từ đó ông chịu ảnh hưởng từ vị triết gia đã khuất này và luôn tin rằng cuộc sống thật vô nghĩa. Nhưng đến năm ông 32 tuổi, Nietzsche đã trải qua một sự thay đổi lớn. Ông không đồng ý với quan điểm của Schopenhauer nữa và cho rằng lý thuyết của người mà mình vẫn coi làm thầy trong suốt thời gian qua là không thực tế cũng như không phát huy được sức mạnh của cuộc sống. Suy nghĩ này xuất phát từ chuyến đi Ý của ông, ở đó ông chưa bao giờ cười tươi và rạng rỡ như vậy. Vì thế ông cho rằng cuộc sống không hoàn toàn là vô nghĩa và đau khổ.
Và từ đó củng cố triết lý "siêu nhân" của mình. Siêu nhân ở đây không phải như những gì chúng ta thấy trên phim ảnh mà cái gọi là Siêu nhân của Nietzsche đó là một khả năng khiến cho cuộc sống trở nên mạnh mẽ hơn. Một Siêu nhân trong triết lý của Nietzsche được xây dựng trên bốn hình mẫu đó là:
-
Montaigne - người mà chúng ta đã giới thiệu ở phần trên;
-
Vĩ nhân vĩ đại của Đức Goethe;
-
Stendhal - tác giả của tác phẩm "Đỏ và Đen";
-
Nhà ngoại giao nổi tiếng Galiani.
Nietzsche tin rằng mọi nỗi đau kéo theo đều dựa trên niềm vui. Vì bạn muốn theo đuổi niềm vui nên phải đủ dũng cảm để chịu đựng nỗi đau. Ông nói đau khổ và hạnh phúc có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Ai muốn được phần nhiều ở khía cạnh này thì phải nếm trải ở nhiều khía cạnh khác. Bạn có thể chọn một trong hai: đạt được ít nhất niềm vui có thể thì sẽ không chịu nhiều đau khổ, hoặc nếm trải càng nhiều đau khổ càng tốt và bạn nhận được giá trị đổi lại là tận hưởng niềm vui từ nội tâm phong phú mà cho đến nay ít ai có được. Nếu bạn chọn cái đầu, muốn giảm bớt mức độ đau khổ của cuộc sống thì cũng phải giảm khả năng hưởng thụ khoái cảm của loài người.
Ngoài ra Nietzsche còn có sở thích leo núi. Ông thuê một căn nhà gỗ dưới chân núi và thường xuyên leo lên đỉnh. Ông đặc biệt thích không khí ở trên đó và cảm thấy leo núi là quá trình khó khăn nhưng cũng thú vị. Nó thử thách con người và tạo ra nhiều cảm hứng. Nhưng gia cảnh của ông cũng vô cùng khó khăn. Trong khi Schopenhauer sống vô lo về kinh tế với gia sản giàu có thì Nietzsche lại rất nghèo. Nghèo đến nỗi không mua nổi bánh mì và suýt bị chết đói.
Nietzsche đã cầu hôn rất nhiều người nhưng không ai muốn theo ông. Sau đó Wagner, bạn của Nietzsche đã khuyên rằng hãy cưới một người phụ nữ giàu có. Nhưng Wagner đã không biết rằng người phụ nữ mà Nietzsche thương thầm lại chính là vợ anh ta. Vì thế chuyện tình cảm của Nietzsche cả đời cũng không được như ý.
Và năm 1889, lúc này Nietzsche đã rơi vào trạng thái suy sụp. Khi nhìn thấy một con ngựa bị đánh đập trên đường, đột nhiên ông ta chạy đến ôm chầm lấy nó và nói: "Tôi khổ quá rồi người anh em ạ". Sau đó ông bị đưa đến trại tâm thần ở Đức, được mẹ và chị gái chăm sóc. 11 năm sau đó ông đã qua đời ở tuổi 55 và kết thúc trong cảnh phát điên.
Cuộc đời và cốt lõi triết lý của Nietzsche đọng lại trong câu nói này của ông, nó cũng như một lời nhắc nhở tới bạn rằng:
"Việc coi đau khổ là một sự đối lập phải loại bỏ là một điều thật ngu ngốc. Tóm lại hậu quả là thảm khốc. Nó ngu ngốc như việc muốn loại bỏ thời tiết xấu vậy".
Trong cuộc sống chắc chắn chúng ta sẽ phải gặp khó khăn, nhưng chính khó khăn sẽ là động lực để bạn phát huy sức mạnh của mình. Đừng cố gắng tránh mọi khó khăn cũng đừng sợ mình phải đau khổ, bởi vì tránh nó thì cũng có nghĩa là bạn đang tránh tất cả những cơ hội tỏa sáng sức sống của cuộc đời.
Thay cho lời kết về sách Sự an ủi của triết học
Rồi, trên đây là sáu câu chuyện của sáu vị triết gia từ cuốn sách Sự an ủi của triết học của Alain De Botton. Thật khó để có thể hiểu hết tâm tư và quan điểm triết học của họ qua cuốn sách mỏng này. Điều mà mình hy vọng là những tư tưởng triết học có thể truyền cho bạn một chút cảm hứng, khiến bạn cảm thấy sự thú vị trong đó và nhận được sự dẫn dắt hữu ích. Bạn thích ai? Nhận được sự chữa lành từ ai? Cần phải làm gì tiếp theo để suy nghĩ thêm sâu sắc, nội tâm thêm phong phú? Nếu có mong muốn này thì bạn hoàn toàn có thể đọc thêm sách về vị triết gia ấy.
Sau cùng cho tất cả, bạn sẽ thấy rằng triết học không chỉ là một niềm an ủi, một sự chữa lành mà hơn hết nó còn là trí huệ và sự khôn ngoan của cuộc sống. Nó cho phép bạn đối mặt với tất cả khó khăn, sự thiếu thốn, sự không hài lòng và cả những đau khổ. Vết thương trong bạn lại chính là cơ hội cho phép mình khám phá sức mạnh của bản thân bằng trí tuệ.










